Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2015

LƯỢC SỬ GIÁO XỨ KHỔNG TƯỚC

LƯỢC SỬ GIÁO XỨ KHỔNG TƯỚC
quan thầy Đức Mẹ Dâng Mình, kính vào ngày 21/11 hàng năm


Giáo xứ Khổng Tước là một trong 116 giáo xứ của giáo phận Hưng Hóa thuộc giáo hạt Tây Bắc Phú Thọ. Lịch sử của giáo xứ từ khi thành lập được viết bằng máu và nước mắt, thăng trầm theo mỗi giai đoạn thăng trầm của đất nước và Giáo Hội.
Khổng Tước là một thôn nằm trong xã Phượng Vĩ. Phượng Vĩ xưa kia là một xã nhỏ trong tổng Vân Bán. Sau năm 1945, xã Phượng Vĩ gồm 3 thôn: Phượng Cát, Vân Thê, Khổng Tước thuộc huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
Họ Khổng Tước là một họ của giáo xứ Phượng Vĩ thuộc phiên Ngô Xá, xứ Dư Ba và được các cha ở Dư Ba và Ngô Xá phục vụ. Đến khi giáo xứ Phượng Vĩ được nâng lên giáo xứ 13/6/2007, Đức cha Antôn Vũ Huy Chương đã chuẩn bị cho giáo xứ một cha xứ trẻ, khỏe, năng động. Đó là cha Giuse Nguyễn Văn Hạnh, nhận xứ ngày 17 tháng 9 năm 2009.
01. Hình thành: Họ Khổng Tước được hình thành từ ngày 21 tháng 11 năm 1896, thuộc xứ Dư Ba. Những giáo dân ban đầu tới xây dựng quê hương mới nơi đây cũng là giáo dân gốc Dư Ba.
02. Địa dư: giáo xứ Khổng Tước nằm trên địa bàn xã Phượng Vĩ với 1548 ha với khoảng 10 km2: phía Đông, dọc theo Sông Hồng; phía Tây, giáp huyện Yên lập; phía Nam, giáp huyện Tam Nông; phía Bắc, giáp huyện Hạ Hòa.
03. Dân số trong xã: 8.300 người
04. Nhân danh hiện nay: 917 người (tính đến ngày 20/9/2015) trên địa bàn hành chính của 5 khu: khu 3, khu 4, khu 5, khu 6, khu 12.
05. Các cha đã về phục vụ giáo xứ (theo tư liệu của cha Giuse Nguyễn Văn Đỉnh):
01. Cha Phêrô Thái
02. Cha Antôn Liêm
03. Cố Chatelier
04. Cha Giuse Đặng Tâm Thuần
05. Cha Giuse Đặng Tất Lượng
06. Cha Phêrô Hoán
07. Cha Laurensô Đỗ Trọng Thông
08. Cha Phaolô Nguyễn Gia Thắng
09. Cố Denevine (Cố Đông)
10. Cha Giuse Phan Chính Trực
11. Cha Phêrô Phạm văn Năng
12. Cha Phêrô Lê Văn Hiển
13. Cha Phêrô Đỗ Khải Nguyên
14. Cha Phêrô Nguyễn Bảo Hựu
15. Cha Giuse Doãn Thực Sự
16. Cha Gioan Dương Đình Tùng
17. Cha Phanxicô Xaviê Đỗ Minh Đức
18. Cha Basiliô Lanter (Cố Linh)
19. Cha Phêrô Chúc
20. Cha Phêrô Nhạ
21. Cha Phêrô Nguyễn Kim Đỉnh
22. Cha Phaolô Vũ Đình Tuyên
23. Cha Phanxicô D’Abrigeon (Phượng)
24. Cha Phêrô Huệ
25. Cha Giuse Tuyên
26. Cha Giuse Lượng
27. Cha Phêrô Nguyễn Nghị Lực
28. Cha Giuse Nguyễn Hữu Lực
29. Cha Giuse Phan Thế Hinh
30. Cha Giuse Nguyễn Văn Đỉnh
31. Cha Giuse Nguyễn Văn Đông
32. Cha Antôn Nguyễn Gia Nhang
33. Cha Giuse Lê Ngọc Nghi
34. Cha Giuse Nguyễn Kim Hoàng
35. Cha Phaolô Nguyễn Quang Đĩnh
36. Cha Giuse Phí Đình Sự
37. Cha Giuse Nguyễn Văn Hạnh – Cha xứ tiên khởi 17/9/2009 của giáo xứ Phượng Vĩ, tiên khởi của giáo xứ Khổng Tước 8/9/2015.
6. Quá trình phát triển:
a. Giai đoạn 01: Chưa có cha xứ. Ban đầu có khoảng 20 gia đình với hơn 100 nhân danh, chia thành hai xóm với hai nhà nguyện bằng tre, nứa, lá: Xóm Trên và Xóm Dưới. Đến năm 1939, cha Giuse Phan Chính Trực đã quy tụ hai xóm thành một nhà nguyện năm gian bằng gỗ lá với sức chứa khoảng 200 người. Sau nhiều lần duy tu, bảo dưỡng, nhà thờ đã hư hoại quá nặng: mái dột nát, tường lát ván thủng nhiều, nguy hiểm lúc mưa to, bão giật; cả nhà thờ không có một chiếc ghế nào ngoài chiếc ghế của cha chủ tế. Mỗi khi có thánh lễ, giáo dân hoàn toàn phải ngồi đất, khổ nhất là những ngày trời mưa.
Cuối cùng, năm 2013 cha Giuse Nguyễn Văn Hạnh đã xây lại như ta thấy hiện nay. Ngày 12/4/2013, ngôi nhà thờ này đã được Đức Cha Gioan Maria Vũ Tất làm phép và cung hiến trọng thể với tước hiệu Đức Mẹ Dâng Mình.
- Nhà phòng: được xây dựng và sửa chữa qua các giai đoạn để sinh hoạt mục vụ.
b. Giai đoạn 2: Đã có cha xứ
Trong đường hướng chung của giáo phận về nghị quyết xây dựng các giáo xứ, giáo họ theo 4 tiêu chí:
-      cộng đoàn đức tin vững mạnh,
-      cộng đoàn phụng tự sốt sáng,
-      cộng đoàn bác ái yêu thương,
-      cộng đoàn truyền giáo mạnh mẽ.
Kể từ ngày 17/9/2009, Đức Cha Antôn Vũ Huy Chương gửi bài sai cha Giuse Nguyễn Văn Hạnh về làm cha xứ tiên khởi của giáo xứ Phượng Vĩ. Dù là giáo xứ non trẻ và còn gặp khó khăn về nhiều mặt: kinh tế, đông con, dân trí thấp, đức tin non yếu, rào cản về lương giáo, chính quyền..., nhưng tất cả những khó khăn đó dần dần được gỡ bỏ khi có sự hiện diện và hoạt động đầy năng động và linh hoạt của cha Giuse Hạnh; đặc biệt là cha đã biết “lấy dân làm gốc”, phối kết hợp chặt chẽ với những người cộng tác, làm việc luôn có chương trình cụ thể, bàn hỏi chi tiết với mọi người, nhất là những người hữu trách.
Khổng Tước là một giáo họ thuộc Giáo xứ Phượng Vĩ, là một giáo xứ mới, nhưng từ ngày có cha Giuse về, bộ mặt giáo xứ ngày càng thay đổi: nhà thờ, nhà phòng, khuôn viên, đền Đức Mẹ, Vườn Thánh, các thiết bị phục vụ cho phụng vụ: âm thanh, sân khấu, TV, máy chiếu, các loại đàn... Bên cạnh đó, Ngài còn chú trọng đến đời sống tâm linh với thánh lễ hàng ngày, soạn giảng chu đáo, các hội đoàn phát triển, đời sống đức tin ngày càng đi lên.
Song song với việc học giáo lý, thiếu nhi thánh thể, quan tâm đến ơn gọi, Ngài còn chú trọng tới việc khuyến học, khuyến tài qua việc thành lập Hội Khuyến Học, nhắc nhở, đôn đốc con em học hành và tuyên dương phát thưởng cho các em đõ đạt Cao đẳng, Đại học và trong các đợt thi huyện, tỉnh, TW. Thành tích này, ngày 19/5/2015 đã được Hội Khuyến Học tỉnh Phú Thọ tặng bằng khen là “Cộng đồng khuyến học suất sắc”.
Ngoài việc tâm linh, khuyến học, khuyến tài, cha Giuse còn chú trọng tới việc đối thoại liên tôn, truyền giáo qua việc Ngài thường tổ chức các ngày lễ trong năm: ngày quốc tế bệnh nhân, ngày 8/3, ngày của mẹ, ngày của cha, ngày thương binh liệt sĩ, ngày trung thu, ngày truyền giáo....
Qua những lần tổ chức, mọi người, kể cả những người tôn giáo bạn rất ấn tượng và có những cảm nghĩ đẹp về công giáo.
Một sự kiện hết sức quan trọng đó là sự hiện diện của hai Dì Mến Thánh Giá Hưng Hóa tại giáo xứ Khổng Tước hôm thứ Năm 28/2/2015 (10/01 Ất Mùi): Dì Maria Đỗ Thị Huệ và Dì Anna Lê Thị Bích Niên. Dù bước đầu còn bỡ ngỡ và thiếu thốn nhiều mặt, nhưng cha xứ, ban hành giáo và bà con giáo dân luôn quan tâm, giúp đời sống và sứ vụ của quý Dì dần đi vào ổn định.
Vì nhu cầu thực tế, qua sự đề nghị của cha xứ Giuse, vào ngày 8/9/2015, Đức Cha Gioan Maria Vũ Tất, giám mục giáo phận Hưng Hóa đã tách giáo họ Khổng Tước thuộc giáo xứ Phượng Vĩ thành giáo xứ mới: giáo xứ Khổng Tước với 02 giáo họ:
- Giáo họ Khổng Tước: sở tại. Địa chỉ: khu 3 Phượng Vĩ: gồm giáo dân của các khu 3, khu 4.
- Giáo họ Trường Xuân: Địa chỉ: khu 05 Phượng Vĩ: gồm giáo dân của các khu 05, khu 6, khu 12.
Theo ý của Đức Cha Tất, dù chưa có đất hoặc chưa được chính quyền công nhận, nhưng xứ nào định tách bao nhiêu họ, tên họ đó là gì, địa chỉ hành chính thì cứ đăng ký.
7. Cống hiến nhân sự cho giáo hội:
Dù chưa có nhiều, nhưng hiện giáo xứ một số Dì đang phục vụ tại một số cộng đoàn các nhà Dòng ở Miền Nam; bên cạnh đó còn có các thế hệ măng non theo đuổi ơn gọi trong giáo xứ hàng tháng.
8. Kinh tế - Văn hóa: Nguồn sống của giáo dân chủ yếu là nông nghiệp, kinh tế ngày càng đi lên. Giới trẻ ngày càng đi đến các phố thị làm ăn. Nhiều em đỗ đạt các trường đại học và cao đẳng. 
9. Tình hình sống đạo: trước năm 1945, việc ôn thi kinh bổn các kỳ đều đặn. Sau năm 1945 bắt đầu sa sút. Từ 1953-1990 bỏ hẳn. Từ năm 1991 được khôi phục và cho đến nay đi vào ổn định. Tinh thần sống đạo dần đi lên, dù còn nhiều điểm tồn đọng cần phải sớm khắc phục.
Vào thời mở cửa, nhiều hy vọng nhưng cũng nhiều âu lo, giáo xứ Khổng Tước đang đứng trước một cánh đồng bao la với những nhiệm vụ cấp bách :
- Rao giảng Tin Mừng cho người đang giữ đạo,
- Tái rao giảng Tin Mừng cho những người vì thời thế và hoàn cảnh mà lơ là đạo,
- Loan báo Tin Mừng cho muôn dân bên cạnh chúng ta.
10. Các Hội đoàn: Hiện giáo xứ có các Hội đoàn sinh hoạt tốt, đều đặn, luôn thăng tiến cả số lượng và chất lượng: Hội Giuse, Hội Mân Côi, Hội Lòng Thương Xót, Ca đoàn, giáo lý, Khuyến học...

Lm. Giuse Nguyễn Văn Hạnh
(Dựa theo tư liệu của cha Giuse Nguyễn Văn Đỉnh)







LƯỢC SỬ GIÁO XỨ VÂN THÊ (CẨM KHÊ)

LƯỢC SỬ  GIÁO XỨ VÂN THÊ (CẨM KHÊ)
quan thầy Đức Mẹ Vô Nhiễm, kính vào ngày 08/12 hàng năm


Giáo xứ Vân Thê là một trong 116 giáo xứ của giáo phận Hưng Hóa thuộc giáo hạt Tây Bắc Phú Thọ. Lịch sử của giáo xứ từ khi thành lập được viết bằng máu và nước mắt, thăng trầm theo mỗi giai đoạn thăng trầm của đất nước và Giáo Hội.
Vân Thê là một thôn nằm trong xã Phượng Vĩ. Phượng Vĩ xưa kia là một xã nhỏ trong tổng Vân Bán. Sau năm 1945, xã Phượng Vĩ gồm 3 thôn: Phượng Cát, Vân Thê, Khổng Tước thuộc huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
Giáo họ Vân Thê thành lập năm 1915, là một họ của giáo xứ Phượng Vĩ thuộc phiên Ngô Xá, xứ Dư Ba và được các cha ở Dư Ba và Ngô Xá phục vụ. Đến khi giáo xứ Phượng Vĩ được nâng lên giáo xứ 13/6/2007, Đức cha Antôn Vũ Huy Chương đã chuẩn bị cho giáo xứ một cha xứ trẻ, khỏe, năng động. Đó là cha Giuse Nguyễn Văn Hạnh, nhận xứ ngày 17 tháng 9 năm 2009.
01. Hình thành: họ Vân Thê ban đầu có một số gia đình từ các họ Dư Ba, Ngô Xá, Phượng Cát chuyển đến đây cùng các gia đình lương dân ở Tuy Lộc, Vân Phú khai khẩn đất đai lập ấp. Ban đầu có khoảng 20 hộ, khoảng trăm nhân danh nên cố già Trung và cha già Liêm cho lập họ vào năm 1915.
02. Địa dư: giáo xứ Vân Thê nằm trên địa bàn xã Phượng Vĩ với 1548 ha với khoảng 10 km2: phía Đông, dọc theo Sông Hồng; phía Tây, giáp huyện Yên lập; phía Nam, giáp huyện Tam Nông; phía Bắc, giáp huyện Hạ Hòa.
03. Dân số trong xã: 8.300 người
04. Nhân danh hiện nay: 2.017 người (tính đến ngày 20/9/2015) trên địa bàn hành chính của 5 khu: khu 2, khu 7, khu 8, khu 9, khu 16.
05. Các cha đã về phục vụ giáo xứ (theo tư liệu của cha Giuse Nguyễn Văn Đỉnh):
01. Cha Phêrô Thái
02. Cha Antôn Liêm
03. Cố Chatelier
04. Cha Giuse Đặng Tâm Thuần
05. Cha Giuse Đặng Tất Lượng
06. Cha Phêrô Hoán
07. Cha Laurensô Đỗ Trọng Thông
08. Cha Phaolô Nguyễn Gia Thắng
09. Cố Denevine (Cố Đông)
10. Cha Giuse Phan Chính Trực
11. Cha Phêrô Phạm văn Năng
12. Cha Phêrô Lê Văn Hiển
13. Cha Phêrô Đỗ Khải Nguyên
14. Cha Phêrô Nguyễn Bảo Hựu
15. Cha Giuse Doãn Thực Sự
16. Cha Gioan Dương Đình Tùng
17. Cha Phanxicô Xaviê Đỗ Minh Đức
18. Cha Basiliô Lanter (Cố Linh)
19. Cha Phêrô Chúc
20. Cha Phêrô Nhạ
21. Cha Phêrô Nguyễn Kim Đỉnh
22. Cha Phaolô Vũ Đình Tuyên
23. Cha Phanxicô D’Abrigeon (Phượng)
24. Cha Phêrô Huệ
25. Cha Giuse Tuyên
26. Cha Giuse Lượng
27. Cha Phêrô Nguyễn Nghị Lực
28. Cha Giuse Nguyễn Hữu Lực
29. Cha Giuse Phan Thế Hinh
30. Cha Giuse Nguyễn Văn Đỉnh
31. Cha Giuse Nguyễn Văn Đông
32. Cha Antôn Nguyễn Gia Nhang
33. Cha Giuse Lê Ngọc Nghi
34. Cha Giuse Nguyễn Kim Hoàng
35. Cha Phaolô Nguyễn Quang Đĩnh
36. Cha Giuse Phí Đình Sự
37. Cha Giuse Nguyễn Văn Hạnh – Cha xứ tiên khởi 17/9/2009 của giáo xứ Phượng Vĩ, tiên khởi của giáo xứ Vân Thê 8/9/2015.
6. Quá trình phát triển:
a. Giai đoạn 01: Chưa có cha xứ. Các cha ở Dư Ba và Ngô Xá đi lại trông coi và phục vụ. Đời sống gặp nhiều khó khăn do chiến tranh, hoàn cảnh xã hội còn nhiều phụ thuộc. Sau khi được thành lập họ đạo, thì cũng được làm nhà thờ. Nhà thờ đầu tiên làm 6 gian gỗ lá, đã di chuyển 4 lần ở 4 địa điểm khác nhau trong xã. Mỗi lần di chuyển là một lần trùng tu. Tại điểm hiện nay đã có 2 lần đại tu. Lần đại tu sau vào năm 1989 do cha cố Đông chỉ đạo, có làm thêm gian, xây bó nền, lợp ngói thay lá. Cuối cùng, năm 2010 cha Giuse Nguyễn Văn Hạnh đã xây lại như ta thấy hiện nay. Ngày 20/4/2010, ngôi nhà thờ này đã được Đức Cha Antôn Vũ Huy Chương làm phép và cung hiến trọng thể với tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm.
- Nhà phòng: được xây dựng và sửa chữa qua các giai đoạn để sinh hoạt mục vụ.
b. Giai đoạn 2: Đã có cha xứ
Trong đường hướng chung của giáo phận về nghị quyết xây dựng các giáo xứ, giáo họ theo 4 tiêu chí:
-      cộng đoàn đức tin vững mạnh,
-      cộng đoàn phụng tự sốt sáng,
-      cộng đoàn bác ái yêu thương,
-      cộng đoàn truyền giáo mạnh mẽ.
Kể từ ngày 17/9/2009, Đức Cha Antôn Vũ Huy Chương gửi bài sai cha Giuse Nguyễn Văn Hạnh về làm cha xứ tiên khởi của giáo xứ Phượng Vĩ. Dù là giáo xứ non trẻ và còn gặp khó khăn về nhiều mặt: kinh tế, đông con, dân trí thấp, đức tin non yếu, rào cản về lương giáo, chính quyền..., nhưng tất cả những khó khăn đó dần dần được gỡ bỏ khi có sự hiện diện và hoạt động đầy năng động và linh hoạt của cha Giuse Hạnh; đặc biệt là cha đã biết “lấy dân làm gốc”, phối kết hợp chặt chẽ với những người cộng tác, làm việc luôn có chương trình cụ thể, bàn hỏi chi tiết với mọi người, nhất là những người hữu trách.
Vân Thê là một giáo họ thuộc Giáo xứ Phượng Vĩ, là một giáo xứ mới, nhưng từ ngày có cha Giuse về, bộ mặt giáo xứ ngày cang thay đổi: nhà thờ, nhà phòng, hang đá, khuôn viên, đền Đức Mẹ, Vườn Thánh, các thiết bị phục vụ cho phụng vụ: âm thanh, sân khấu, TV, máy chiếu, các loại đàn... Bên cạnh đó, Ngài còn chú trọng đến đời sống tâm linh với thánh lễ hàng ngày, soạn giảng chu đáo, các hội đoàn phát triển, đời sống đức tin ngày càng đi lên.
Song song với việc học giáo lý, thiếu nhi thánh thể, quan tâm đến ơn gọi, Ngài còn chú trọng tới việc khuyến học, khuyến tài qua việc thành lập Hội Khuyến Học, nhắc nhở, đôn đốc con em học hành và tuyên dương phát thưởng cho các em đõ đạt Cao đẳng, Đại học và trong các đợt thi huyện, tỉnh, TW. Thành tích này, ngày 19/5/2015 đã được Hội Khuyến Học tỉnh Phú Thọ tặng bằng khen là “Cộng đồng khuyến học suất sắc”.
Ngoài việc tâm linh, khuyến học, khuyến tài, cha Giuse còn chú trọng tới việc đối thoại liên tôn, truyền giáo qua việc Ngài thường tổ chức các ngày lễ trong năm: ngày quốc tế bệnh nhân, ngày 8/3, ngày của mẹ, ngày của cha, ngày thương binh liệt sĩ, ngày trung thu, ngày truyền giáo....
Qua những lần tổ chức, mọi người, kể cả những người tôn giáo bạn rất ấn tượng và có những cảm nghĩ đẹp về công giáo.
Một sự kiện hết sức quan trọng đó là sự hiện diện của hai Dì Mến Thánh Giá Hưng Hóa tại giáo xứ Khổng Tước hôm thứ Năm 28/2/2015 (10/01 Ất Mùi): Dì Maria Đỗ Thị Huệ và Dì Anna Lê Thị Bích Niên. Dù bước đầu còn bỡ ngỡ và thiếu thốn nhiều mặt, nhưng cha xứ, ban hành giáo và bà con giáo dân luôn quan tâm, giúp đời sống và sứ vụ của quý Dì dần đi vào ổn định.
Vì nhu cầu thực tế, qua sự đề nghị của cha xứ Giuse, vào ngày 8/9/2015, Đức Cha Gioan Maria Vũ Tất, giám mục giáo phận Hưng Hóa đã tách giáo họ Vân Thê thuộc giáo xứ Phượng Vĩ thành giáo xứ mới: giáo xứ Vân Thê với 03 giáo họ:
- Giáo họ Vân Thê: sở tại. Địa chỉ: khu 16 Phượng Vĩ: gồm giáo dân của các khu 7, khu 9, khu 16.
- Giáo họ Đông Thịnh: Địa chỉ: khu 02 Phượng Vĩ: gồm giáo dân của các khu 02.
- Giáo họ Vân Xuân: Địa chỉ: khu 8 Phượng Vĩ: gồm giáo dân của khu 8.
Theo ý của Đức Cha Tất, dù chưa có đất hoặc chưa được chính quyền công nhận, nhưng xứ nào định tách bao nhiêu họ, tên họ đó là gì, địa chỉ hành chính thì cứ đăng ký.
7. Cống hiến nhân sự cho giáo hội:
Để tiếp bước thế hệ tiền bối, hiện giáo xứ có Thầy Thịnh đang học tại Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hà Nội; bên cạnh đó còn có các thế hệ măng non theo đuổi ơn gọi trong giáo xứ hàng tháng.
8. Kinh tế - Văn hóa: Nguồn sống của giáo dân chủ yếu là nông nghiệp, kinh tế ngày càng đi lên. Giới trẻ ngày càng đi đến các phố thị làm ăn. Nhiều em đỗ đạt các trường đại học và cao đẳng.  
9. Tình hình sống đạo: trước năm 1945, việc ôn thi kinh bổn các kỳ đều đặn. Sau năm 1945 bắt đầu sa sút. Từ 1953-1990 bỏ hẳn. Từ năm 1991 được khôi phục và cho đến nay đi vào ổn định. Tinh thần sống đạo dần đi lên, dù còn nhiều gương xấu khó sửa, tồn đọng.
Vào thời mở cửa, nhiều hy vọng nhưng cũng nhiều âu lo, giáo xứ Vân Thê đang đứng trước một cánh đồng bao la với những nhiệm vụ cấp bách :
- Rao giảng Tin Mừng cho người đang giữ đạo,
- Tái rao giảng Tin Mừng cho những người vì thời thế và hoàn cảnh mà lơ là đạo,
- Loan báo Tin Mừng cho muôn dân bên cạnh chúng ta.
10. Các Hội đoàn: Hiện giáo xứ có các Hội đoàn sinh hoạt tốt, đều đặn, luôn thăng tiến cả số lượng và chất lượng: Hội Giuse, Hội Mân Côi, Hội Lòng Thương Xót, Ca đoàn, giáo lý, Khuyến học...
Lm. Giuse Nguyễn Văn Hạnh
(Dựa theo tư liệu của cha Giuse Nguyễn Văn Đỉnh)






LƯỢC SỬ GIÁO XỨ PHƯỢNG VĨ

 LƯỢC SỬ GIÁO XỨ PHƯỢNG VĨ

Phượng Vĩ xưa kia là một xã nhỏ trong tổng Vân Bán. Sau năm 1945, xã Phượng Vĩ gồm 3 thôn: Phượng Cát, Vân Thê, Khổng Tước thuộc huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
Giáo họ Phượng Vĩ thành lập năm 1880, Phượng Vĩ vẫn thuộc phiên Ngô Xá, xứ Dư Ba và được các cha ở Ngô Xá phục vụ. Đến khi được nâng lên giáo xứ 13/6/2007, Đức cha Antôn Vũ Huy Chương đã chuẩn bị cho Phượng Vĩ một cha xứ trẻ, khỏe. Đó là cha Giuse Nguyễn Văn Hạnh, nhận xứ ngày 17 tháng 9 năm 2009.
Họ giáo Phượng Vĩ: Quan thầy thánh Phanxicô Xaviê, kính vào ngày 03/12 hàng năm
Giáo xứ Phượng Vĩ là một trong 116 giáo xứ của giáo phận Hưng Hóa thuộc giáo hạt Tây Bắc Phú Thọ. Lịch sử của giáo xứ từ khi thành lập được viết bằng máu và nước mắt, thăng trầm theo mỗi giai đoạn thăng trầm của đất nước và Giáo Hội.
01. Hình thành: Họ giáo được thành lập vào năm 1880, do một số gia đình công giáo ở Kiều Mộc (Sơn Tây), Bãi Dòng, Hiền Quan... đến đây làm ăn. Họ đạo được cha già Phêrô Thái (sinh 1813, mất 22/2/1896), chính xứ Dư Ba thành lập khi đó mới có 12 gia đình, trên 30 nhân danh.
02. Địa dư: giáo xứ Phượng Vĩ nằm trên địa bàn xã Phượng Vĩ với 1548 ha với khoảng 10 km2: phía Đông, dọc theo Sông Hồng; phía Tây, giáp huyện Yên lập; phía Nam, giáp huyện Tam Nông; phía Bắc, giáp huyện Hạ Hòa.
03. Dân số trong xã: 8.300 người
04. Nhân danh hiện nay: 4.009 người (tính đến ngày 20/9/2015) trên địa bàn hành chính của 6 khu: khu 1, khu 10, khu 11, khu 13, khu 14, khu 15.
05. Các cha đã về phục vụ giáo xứ (theo tư liệu của cha Giuse Nguyễn Văn Đỉnh):
01. Cha Phêrô Thái
02. Cha Antôn Liêm
03. Cố Chatelier
04. Cha Giuse Đặng Tâm Thuần
05. Cha Giuse Đặng Tất Lượng
06. Cha Phêrô Hoán
07. Cha Laurensô Đỗ Trọng Thông
08. Cha Phaolô Nguyễn Gia Thắng
09. Cố Denevine (Cố Đông)
10. Cha Giuse Phan Chính Trực
11. Cha Phêrô Phạm văn Năng
12. Cha Phêrô Lê Văn Hiển
13. Cha Phêrô Đỗ Khải Nguyên
14. Cha Phêrô Nguyễn Bảo Hựu
15. Cha Giuse Doãn Thực Sự
16. Cha Gioan Dương Đình Tùng
17. Cha Phanxicô Xaviê Đỗ Minh Đức
18. Cha Basiliô Lanter (Cố Linh)
19. Cha Phêrô Chúc
20. Cha Phêrô Nhạ
21. Cha Phêrô Nguyễn Kim Đỉnh
22. Cha Phaolô Vũ Đình Tuyên
23. Cha Phanxicô D’Abrigeon (Phượng)
24. Cha Phêrô Huệ
25. Cha Giuse Tuyên
26. Cha Giuse Lượng
27. Cha Phêrô Nguyễn Nghị Lực
28. Cha Giuse Nguyễn Hữu Lực
29. Cha Giuse Phan Thế Hinh
30. Cha Giuse Nguyễn Văn Đỉnh
31. Cha Giuse Nguyễn Văn Đông
32. Cha Antôn Nguyễn Gia Nhang
33. Cha Giuse Lê Ngọc Nghi
34. Cha Giuse Nguyễn Kim Hoàng
35. Cha Phaolô Nguyễn Quang Đĩnh
36. Cha Giuse Phí Đình Sự
37. Cha Giuse Nguyễn Văn Hạnh – Cha xứ tiên khởi 17/9/2009
6. Quá trình phát triển:
a. Giai đoạn 01: Chưa có cha xứ. Các cha ở Dư Ba và Ngô Xá đi lại trông coi và phục vụ. Đời sống gặp nhiều khó khăn do chiến tranh, hoàn cảnh xã hội còn nhiều phụ thuộc. Từ trước tới nay, nhà thờ Phượng Vĩ đã có 3 ngôi nhà thờ làm khác nhau:
- Khi mới lập họ, đã dựng ngôi nhà thờ gỗ lợp lá. Nhà thờ này đã bị giặc Cờ Đen đốt.
- Sau năm 1890, cha già Thái cho dựng lại ngôi nhà thờ bằng gỗ, lịa ván. Ngôi nhà này đến năm 1941 tu sửa và chuyển sát ngôi nhà thờ mới hiện nay.
- Năm 1943, cha Tùng cho xây 3 gian đầu và móng cột của 4 gian cuối nhà thờ mới. Chuyển nhà thờ gỗ lá nối lại để giáo dân dự lễ.
- Tháng 9/1952, máy bay Pháp đã ném bom Napan xuống khu nhà thờ, phần gỗ lá ở nhà thờ, nhà phòng cháy sạch. Phần gạch ngói bị sụp đổ, các đồ thờ đều bị phá hủy, một số gia đình bị thiệt người và của. Sau khi bị bắn phá, năm 1953 cha Giuse Lực cho lợp tạm để có nơi làm lễ. Năm 1957 mới chính thức tu sửa 3 gian cung thánh và phòng mặc áo. Đến năm 1991, dưới sự chỉ đạo của cha Giuse Nguyễn Văn Đông và được sự giúp đỡ của các cha và bà con giáo dân đã xây dựng tiếp số gian còn lại.
- Năm 2007, được sự đồng ý của Đức Cha Antôn Vũ Huy Chương, cha xứ Giuse Phí Đình Sự, đặc biệt là cha phó Giuse Nguyễn Văn Hạnh đã cùng với bà con giáo dân đi vào nâng cấp nhà thờ được khang trang như hôm nay. Ngày 22/4/2008, nhà thờ này đã được cung hiến trọng thể với tước hiệu Thánh Phanxicô Xaviê.
- Nhà phòng: được xây dựng cùng các giai đoạn làm nhà thờ, nhưng sau vụ bom Napan năm 1952, nhà phòng bị cháy. Gặp thời thế khó khăn, không được làm. Đến năm 1993, cha Antôn Nguyễn Gia Nhang, chính xứ Dư Ba mới chỉ đạo làm nhà phòng đơn sơ để sinh hoạt với hơn 100m2.
b. Giai đoạn 2: Đã có cha xứ.
Trong đường hướng chung của giáo phận về nghị quyết xây dựng các giáo xứ, giáo họ theo 4 tiêu chí:
-      cộng đoàn đức tin vững mạnh,
-      cộng đoàn phụng tự sốt sáng,
-      cộng đoàn bác ái yêu thương,
-      cộng đoàn truyền giáo mạnh mẽ.
Kể từ ngày 17/9/2009, Đức Cha Antôn Vũ Huy Chương gửi bài sai cha Giuse Nguyễn Văn Hạnh về làm cha xứ tiên khởi của giáo xứ Phượng Vĩ. Dù là giáo xứ non trẻ và còn gặp khó khăn về nhiều mặt: kinh tế, đông con, dân trí thấp, đức tin non yếu, rào cản về lương giáo, chính quyền..., nhưng tất cả những khó khăn đó dần dần được gỡ bỏ khi có sự hiện diện và hoạt động đầy năng động và linh hoạt của cha Giuse Hạnh; đặc biệt là cha đã biết “lấy dân làm gốc”, phối kết hợp chặt chẽ với những người cộng tác, làm việc luôn có chương trình cụ thể, bàn hỏi chi tiết với mọi người, nhất là những người hữu trách.
Giáo xứ Phượng Vĩ là một giáo xứ mới, nhưng từ ngày có cha Giuse về, bộ mặt giáo xứ ngày cang thay đổi: nhà thờ, nhà phòng, hang đá, khuôn viên, đền Đức Mẹ, Vườn Thánh, các thiết bị phục vụ cho phụng vụ: âm thanh, sân khấu, TV, máy chiếu, các loại đàn... Bên cạnh đó, Ngài còn chú trọng đến đời sống tâm linh với thánh lễ hàng ngày, soạn giảng chu đáo, các hội đoàn phát triển, đời sống đức tin ngày càng đi lên.
Song song với việc học giáo lý, thiếu nhi thánh thể, quan tâm đến ơn gọi, Ngài còn chú trọng tới việc khuyến học, khuyến tài qua việc thành lập Hội Khuyến Học, nhắc nhở, đôn đốc con em học hành và tuyên dương phát thưởng cho các em đõ đạt Cao đẳng, Đại học và trong các đợt thi huyện, tỉnh, TW. Thành tích này, ngày 19/5/2015 đã được Hội Khuyến Học tỉnh Phú Thọ tặng bằng khen là “Cộng đồng khuyến học suất sắc”.
Ngoài việc tâm linh, khuyến học, khuyến tài, cha Giuse còn chú trọng tới việc đối thoại liên tôn, truyền giáo qua việc Ngài thường tổ chức các ngày lễ trong năm: ngày quốc tế bệnh nhân, ngày 8/3, ngày của mẹ, ngày của cha, ngày thương binh liệt sĩ, ngày trung thu, ngày truyền giáo....
Qua những lần tổ chức, mọi người, kể cả những người tôn giáo bạn rất ấn tượng và có những cảm nghĩ đẹp về công giáo.
Một sự kiện hết sức quan trọng đó là sự hiện diện của hai Dì Mến Thánh Giá Hưng Hóa tại giáo xứ Khổng Tước hôm thứ Năm 28/2/2015 (10/01 Ất Mùi): Dì Maria Đỗ Thị Huệ và Dì Anna Lê Thị Bích Niên. Dù bước đầu còn bỡ ngỡ và thiếu thốn nhiều mặt, nhưng cha xứ, ban hành giáo và bà con giáo dân luôn quan tâm, giúp đời sống và sứ vụ của quý Dì dần đi vào ổn định.
Vì nhu cầu thực tế, qua sự đề nghị của cha xứ Giuse, vào ngày 8/9/2015, Đức Cha Gioan Maria Vũ Tất, giám mục giáo phận Hưng Hóa đã tách giáo họ Vân Thê và Khổng Tước thuộc giáo xứ Phượng Vĩ thành hai giáo xứ mới: giáo xứ Vân Thê và giáo xứ Khổng Tước. Riêng giáo xứ Phượng Vĩ được chia làm 03 giáo họ:
- Giáo họ Phượng Vĩ: sở tại. Địa chỉ: khu 10 Phượng Vĩ: gồm giáo dân của các khu 10, khu 11, khu 13.
- Giáo họ Phượng Tiên: Địa chỉ: khu 01 Phượng Vĩ: gồm giáo dân của các khu 01, khu 14.
- Giáo họ Phượng Lương: Địa chỉ: khu 15 Phượng Vĩ: gồm giáo dân của khu 15.
Theo ý của Đức Cha Tất, dù chưa có đất hoặc chưa được chính quyền công nhận, nhưng xứ nào định tách bao nhiêu họ, tên họ đó là gì, địa chỉ hành chính thì cứ đăng ký.
7. Cống hiến nhân sự cho giáo hội:
a. Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Khắc Hiếu, thụ phong 10/6/1933. Phó xứ Bách Lộc, ở Vĩnh Thọ đến 1947, quản lý địa phận. Qua đời năm 1949, thi hài hiện nay tại vườn thánh xứ Vĩnh Thọ, Vân Phúc, Phúc Thọ, Hà Nội.
b. Cha Phêrô Dư Kim Khoa, thụ phong năm 1951, ở Bản Hẻo (Vĩnh Quang – Yên Bái). Năm 1963 bị một số giáo dân xấu bụng vu cáo, Ngài phải quản thúc tại Vân Sa, La Thiện (Ba Vì). Thập niên 70, Ngài được coi nhà thờ Phú Nghĩa (Thạch Thất) và qua đời 23/4/1981 tại Phú Nghĩa, Thạch Thất.
c. Cha Phêrô Dư Tác Thiện, em trai cha Phêrô Dư Kim Khoa. Thụ phong 1950 tại Phát Diệm, phó xứ Bách Lộc, đi Nam năm 1954: giúp mục vụ cho các gia đình binh sĩ ở Trà Vinh, chính xứ Phước Lễ, chính xứ Sơn Lộc – Huyện Củ Chi, chính xứ Bùi Hưng - Tam Hiệp – Đồng Nai, chính xứ Tân Hưng – Q. Gò Vấp – Sài Gòn. Năm 1975 - 2004: Về nhà nguyện Camelo trụ sở Giáo Phận Hưng Hóa tại 20/8 Chữ Đồng Tử - P7 – Q. Tân Bình. Ngày 29/10/2004: Nghỉ hưu tại nhà Hưu Dưỡng các Linh Mục Chí Hòa - Sài Gòn. Cha Phêrô đã được Chúa gọi về vào lúc 6g20 thứ Hai, ngày 22 tháng 12 năm 2014 (01/11 Giáp Ngọ), hưởng thọ 95 tuổi, sau 65 năm linh mục. Thi hài của Ngài được an táng tại Nghĩa trang giáo xứ Sơn Lộc, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc giáo phận Phú Cường.
Để tiếp bước thế hệ tiền bối, hiện giáo xứ có hai thầy (Thầy Chính và Thầy Thành) đang học tại Đại Chủng Viện Thánh Giuse tại giáo phận Xuân Lộc; bên cạnh đó còn có các Dì hiện đang phục vụ các Dòng Mến Thánh Giá Hưng Hóa cũng như các Dòng khác ở Bắc – Trung – Nam: hơn 10 Dì và các chú đang theo các lớp Tiền Chủng Viện và Dự tiền của giáo phận cùng với 80 em theo đuổi lớp tìm hiểu ơn gọi trong giáo xứ hàng tháng.
8. Kinh tế - Văn hóa: Nguồn sống của giáo dân chủ yếu là nông nghiệp, kinh tế ngày càng đi lên. Giới trẻ ngày càng đi đến các phố thị làm ăn. Nhiều em đỗ đạt các trường đại học và cao đẳng. Trung bình mỗi năm giáo xứ có 15 em đỗ cao đẳng và đại học.
9. Tình hình sống đạo: trước năm 1945, việc ôn thi kinh bổn các kỳ đều đặn. Sau năm 1945 bắt đầu sa sút. Từ 1953-1990 bỏ hẳn. Từ năm 1991 được khôi phục và cho đến nay đi vào ổn định. Tinh thần sống đạo dần đi lên, dù còn nhiều gương xấu khó sửa, tồn đọng.
Vào thời mở cửa, nhiều hy vọng nhưng cũng nhiều âu lo, giáo xứ Phượng Vĩ đang đứng trước một cánh đồng bao la với những nhiệm vụ cấp bách :
- Rao giảng Tin Mừng cho người đang giữ đạo,
- Tái rao giảng Tin Mừng cho những người vì thời thế và hoàn cảnh mà lơ là đạo,
- Loan báo Tin Mừng cho muôn dân bên cạnh chúng ta.
10. Các Hội đoàn: Hiện giáo xứ có các Hội đoàn sinh hoạt tốt, đều đặn, luôn thăng tiến cả số lượng và chất lượng: Hội Giuse, Hội Mân Côi, Hội Lòng Thương Xót, Ca đoàn, giáo lý, Khuyến học, Bát Âm, Tông Đồ...
Lm. Giuse Nguyễn Văn Hạnh
(Dựa theo tư liệu của cha Giuse Nguyễn Văn Đỉnh)




Thứ Hai, 14 tháng 7, 2014

LỄ TẠ ƠN NGÀY GIÁP NĂM THỤ PHONG LINH MỤC

LỄ TẠ ƠN NGÀY GIÁP NĂM THỤ PHONG LINH MỤC
2006 – 14/2 – 2012

Ngày 14 tháng 2 năm 2006, lần đầu tiên trong lịch sử Giáo phận Hưng Hóa, Đức Cha An tôn Vũ Huy Chương đã phong chức linh mục cho 11 phó tế. Đây là con số các cha chịu chức đông nhất: 11 cha, trong đó có tôi.
Một năm với 365 ngày nhân với 6 năm đã qua là 2190 ngày. Mỗi ngày mỗi linh mục đã dâng ít nhất là một thánh lễ. Nếu mỗi thánh lễ là một hành vi tạ ơn tuyệt vời nhất mà con người có thể dâng lên Thiên Chúa, thì không ngày nào trong suốt những năm qua, các linh mục của chúng ta không dâng lời tạ ơn Thiên Chúa. Nhưng hôm nay, với thánh lễ tạ ơn này, tâm tình tạ ơn của tôi mừng ngày giáp năm thụ phong quả thật mang lấy một sắc thái đặc biệt hơn hết mọi ngày.
Trong bức thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc I, thánh Phaolô đã viết: “Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Ngài đã ban cho anh em nơi Đức Kitô Giêsu. Quả vậy, trong Đức Kitô Giêsu, anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện, phong phú vì được nghe Lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm của Ngài… Chính Ngài sẽ làm cho anh em nên vững chắc đến cùng, nhờ thế không ai có thể trách cứ được anh em trong Ngày của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô” (1Cr 1,4-5.8). Lời này càng thích hợp hơn nữa khi áp dụng cho các linh mục, và do đó các linh mục càng có lý do để tạ ơn Thiên Chúa hơn những người khác.
Thiết tưởng không có cách nào tuyệt vời hơn để diễn tả tâm tình tạ ơn cho bằng bắt chước Đức Trinh Nữ Maria trong bài ca Magnificat mà chúng ta vừa nghe trong đoạn Tin Mừng hôm nay. Tâm hồn Mẹ đầy tràn niềm vui và tâm tình tri ân đối với Thiên Chúa, vì Ngài đã đoái thương chọn một thiếu nữ thấp hèn như Mẹ làm mẹ Đấng Cứu Thế. Tâm tình tri ân của Mẹ phát xuất từ một cảm nghiệm sâu sắc về sự nhỏ bé thấp hèn của mình và địa vị cao sang cùng với muôn vàn hồng ân mà Thiên Chúa đã thương ban cho Mẹ. Càng ý thức mình nhỏ bé, Mẹ càng cảm thấy ơn Chúa thật lớn lao.
Từ một thiếu nữ thấp hèn, ĐứcMaria đã được phong chức làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Cũng vậy, từ những con người phàm hèn yếu đuối và bất xứng, các linh mục đã được nâng lên hàng bạn hữu của Đức Kitô, được tuyển chọn trong muôn một và phong chức để thay mặt Chúa dạy dỗ, cai quản và thánh hóa nhân loại. Tại sao? Chữ “tại sao” này người ngoài khó hiểu đã đành, mà ngay cả bản thân linh mục cũng không bao giờ có thể hiểu nổi.
Ngày nay, trong thế giới đang trên đà tục hóa, nhiều người không tin vào tính thánh thiêng của chức linh mục, họ chỉ xem đó như một nghề như mọi thứ nghề khác, và các linh mục cũng chỉ được coi như là những công chức ăn lương, chỉ làm việc theo hợp đồng trong những giờ hành chánh. Nhiều nơi ở Âu Mỹ, người ta chẳng cần biết một linh mục có thánh thiện hay không, vì đó là chuyện đời tư của mỗi người, miễn là linh mục ấy chu toàn một số nhiệm vụ mà họ yêu cầu, như cử hành thánh lễ, ban các phép bí tích.
Thực ra, linh mục không phải là một nghề, nhưng là một thừa tác vụ thánh. Linh mục không làm việc vì tiền, vì đồng lương, nhưng vì đó là một sứ vụ được Thiên Chúa giao phó và linh mục đã tự do và vui lòng đón nhận, không phải theo một hợp đồng nhất thời, nhưng là một sự dấn thân suốt cả cuộc đời. Đó chính là sứ vụ mà Đức Kitô đã nhận được từ nơi Chúa Cha và Ngài trao lại cho các linh mục. Đó là sứ vụ của Đức Kitô là Đầu, không theo nghĩa là kẻ ăn trên ngồi trước, nhưng là người phục vụ, như chính Đức Giêsu đã dạy: “Ai làm đầu phải hầu thiên hạ”. Sự cao cả và niềm vui của các linh mục thừa tác là ở chỗ đó. Vì thế, khác với các quan chức thế trần, các linh mục của Chúa không được đánh giá bằng địa vị, bằng tiền bạc, nhưng bằng sự phục vụ. Ai càng phục vụ cách khiêm tốn, ai càng hy sinh phục vụ nhiều và quên mình thì càng có giá trị trước mặt Chúa, kể cả trước mặt người đời, vì người đời vẫn tôn kính những người như thế.
Để bày tỏ tâm tình tri ân đối với Thiên Chúa là Đấng đã đoái thương nhìn đến phận hèn nữ tì của Mẹ và đã làm cho Mẹ những điều cao cả, Đức Maria đã vội vã lên đường phục vụ như một nữ tì khiêm tốn tại nhà bà chị họ Êlisabeth, trong những ngày bà sinh nở. Đức Mẹ đã không kể đến địa vị làm mẹ Thiên Chúa của mình để đòi cho được người ta tôn kính hay phục vụ, nhưng Mẹ đã quên mình để phục vụ giống như Chúa Giêsu, Con Mẹ sau này. Mẹ đã thực hiện trước những gì Chúa Giêsu sau này sẽ dạy các môn đệ của Ngài. Và như thế, bên cạnh tước hiệu cao sang “Mẹ Thiên Chúa”, Mẹ còn có thêm một tước hiệu tuy khiêm tốn nhưng đầy ý nghĩa đối với các linh mục, đó là tước hiệu “người môn đệ tuyệt hảo của Đức Kitô”.
Theo gương người môn đệ tuyệt hảo ấy, các linh mục sau ngày thụ phong, đều mau mắn lên đường phục vụ khắp nơi, để đem Chúa và Tin Mừng đến với mọi người. Theo bài sai của Đức Giám Mục giáo phận ngày 17.9.2009, hôm nay mừng ngày giáp năm thụ phong, tôi cũng đã ra đi với sứ mạng như thế. Nếu lấy nhà thờ Chính tòa làm điểm xuất phát, thì tôi sẽ ra đi phục vụ tại những địa chỉ trong giáo phận mà Đức Giám Mục giáo phận sai đi. 
Trong ngày thụ phong, nhờ ân sủng của bí tích truyền chức thánh, tôi đã “là” linh mục, nhưng tôi còn phải “làm” linh mục mỗi ngày. Chức linh mục thừa tác không bao giờ là một sự thành toàn. Chỉ nơi Đức Kitô, vị Thượng Tế tối cao, mới có ưu phẩm đó. Còn những ai tham dự vào chức linh mục của Ngài, luôn phải đặt mình trong tiến trình trở thành linh mục, nghĩa là ngày nào cũng phải vươn lên, chứ không thể bằng lòng với tình trạng hiện tại. Ngày thụ phong linh mục không phải là một đỉnh cao, nhưng chỉ là bước khởi đầu của một tiến trình rất dài và không ngưng nghỉ, có thể gọi đó là tiến trình “làm” linh mục. Điều đó được thể hiện qua đời sống thiêng liêng, qua những dấn thân phục vụ trong các lãnh vực mục vụ, truyền giáo. Nếu chữ “làm” phát xuất từ chữ “là” và nhằm thể hiện chữ “là”, thì mọi hoạt động của linh mục, tức những gì linh mục “làm”, từ đây mang dấu ấn của thiên chức linh mục. Các linh mục không “làm” linh mục trong một số công tác mục vụ nào đó, trong những thời khắc và địa điểm nào đó, nhưng là “làm” linh mục cả ngày lẫn đêm, cả khi thức cũng như khi ngủ. Tước hiệu linh mục từ đây đã gắn liền với tên gọi, suốt đời và cho đến mãn đời.
Giờ đây, chúng ta không những hiệp ý với các linh mục nói chung, đặc biệt cho tôi, một tôi tớ thấp hèn, bất tài, vô dụng trước mặt Thiên Chúa và ÔBACE, dâng lời tạ ơn Thiên Chúa vì hồng ân thánh chức linh mục tôi đã nhận lãnh vừa tròn 6 năm, nhưng mỗi người chúng ta cũng hãy tiếp tục giúp đỡ tôi bằng lời cầu nguyện và những sự nâng đỡ về tinh thần cũng như vật chất, để tôi đem những hồng ân mà Thiên Chúa đã trao ban trong thánh chức linh mục phân phát cho ÔBACE như lời thánh thi Giáo Hội vẫn đọc trong lễ kính nhớ các thánh mục tử:
Đây linh mục, những con người thánh hiến
Suốt cuộc đời làm chủ tế trung kiên,
Đem tình thương người mục tử nhân hiền,
Dâng trọn vẹn cho đoàn chiên chẳng tiếc.
Hồng ân Chúa, những hồng ân đặc biệt,
Lãnh nhận rồi, phân phát cả cho dân.